Tác phẩm

CUNG TÍCH BIỀN ( I ) - CHÂN DUNG VĂN NGHỆ - NGUYỄN HỮU HỒNG MINH

 Ký họa chân dung nhà văn Cung Tích Biền
Họa sĩ Nguyễn Xuân Hoàng, báo Tiền Phong, 7.2012
 


PHẦN I


1. Mấy lần mình định dựng chân dung nhà văn Cung Tích Biền nhưng chần chừ mãi. Trong tập tạp văn và gương mặt văn nghệ “Sài Gòn Sài Gòn” chắc chắn không thể thiếu bài về anh được. Nhưng viết về anh cực khó. Bởi lẽ, viết thì phải đọc. Không đọc được hết mười phần tác phẩm của anh thì chí ít cũng năm, sáu. Nhưng đọc anh không dễ. Trước đây tư liệu gần như không có. Hai năm gần đây anh tự tay chăm sóc bộ “Toàn Tập Cung Tích Biền” nay đã ra đến cuốn thứ Sáu. Anh đùa gọi việc ấn loát, kỹ thuật này là nhà xuất bản Một Mình. Nếu ra hết toàn bộ tác phẩm chắc cũng trên dưới mười ngàn trang. 

Hai cuốn mình xem những năm 1990 là "Chim Cánh Cụt" và "Một Thời Lưu Lạc". Mình nhớ kỹ là hai tiểu thuyết được xuất bản đàng hoàng trong thời gian đó. Thời điểm mà các địa phương bỗng dưng được ra các nhà xuất bản như Long An, Đất Mũi… Văn Cung Tích Biền hoàn toàn khác với những cuốn sách mình đọc lúc đó. Thậm chí có vẻ quái dị. Vì dụ như "Một Thời Lưu Lạc" có một nhân vật nổi tiếng và làm nên chuyện chỉ nhờ có con cặc vĩ đại (!?).

Đây là những ghi chép của mình về Cung Tích Biền để có thể sẽ hoàn thành một bài viết về sau đó. Mình đang đọc bộ Toàn tập của anh tặng và sẽ bắt đầu viết sau khi đọc xong.

***

2. Hôm qua, anh Cung Tích Biền gọi điện rủ đi nhậu. “Ra Đất Phương Nam nha em!”. Mình hơi ngạc nhiên vì thấy đồng hồ còn quá sớm. Mới mười một giờ. Thường anh Biền ra khỏi nhà phải mười hai rưỡi. Anh cười. “Hôm nay chỗ anh cúp điện! Không làm việc được!...”. Thì ra vậy! Nhờ cúp điện mới có “lực đẩy” anh ra khỏi am thất!

Mình ít thấy ai có một lịch làm việc chăm chỉ và nghiêm túc như anh Biền. Ở tuổi trên 70. Danh mục do chính anh soạn trong cuốn tiểu thuyết “Mùa Hạ” Toàn tập V, tổng cộng 23 cuốn.  Anh đánh hai dấu hoa thị làm hai ghi chú: (*) "Toàn bộ tác phẩm CTB đã đăng báo. xuất bản trước 1975, hiện còn đang bị cấm in ấn, lưu hành, xuất bản. Lệnh cấm có từ tháng 5.1975 nay chưa thay đổi...". (**) Danh mục từ 15 đến 23 là do nhà xb Một Mình ấn hành"...

Mình nghe nói nhiều về những hào quang và hào hoa của văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ. Mình nghe thì nghe vậy chứ chẳng tin! Bởi vấn đề của văn chương là phải đọc. Cứ cho là một một thời “tuyệt mỹ” với những sinh hoạt ngồn ngộn rất “tự do” và “dân chủ” phiên phiến như thế đi nhưng có là sao, có giá trị gì nếu không còn lại trong tác phẩm? Thời sinh viên cùng với Vương Huy, Phan Bá Thọ, Nguyễn Danh Lam… bọn mình cũng chịu khó đi các nhà sách cũ khuân về nhiều tên tuổi, nhiều thứ để đọc. Tuy nhiên, phải nói thẳng là mình chỉ bị thuyết phục bởi sách dịch. Sách dịch Sài Gòn cũ gần như thượng vàng hạ cám. Không thiếu một thứ gì! Sách in ấn đẹp, sang trọng. Những tên tuổi nổi tiếng thế giới, từ kinh điển đến hiện đại như Jack Kerouac, Dostoevsky, Friedrich Nietzsche, Henry Miller... đến André Gide, Gérard De Nerval, Adelbert von Chamisso, Emily Brontë, Albert Camus, Samuel Beckett...qua bản dịch của Lê Tôn Nghiêm, Lê Thanh Hoàng Dân, Mai Vi Phúc, Trần Xuân Kiêm, Nguyễn Văn Trung, Cô Lữ, Nguyễn Hữu Hiệu, Thạch Chương, Mặc Đỗ, Phùng Thăng, Phùng Khánh, Bùi Giáng, Hoài Khanh... bọn mình may mắn tìm thấy, gom được và đọc qua hết từ các nhà sách cũ khu Chợ Bà Chiểu, Ký Con, Nguyễn Thị Minh Khai, nhà máy thuốc lá quận 5... Còn tác phẩm của các nhà văn Sài Gòn cũ thì không tìm được bao nhiêu! Có mấy cuốn thì cũng không gây ấn tượng gì đặc sắc! Liệu có phải thứ gì "xếp lại" trong "thư tịch", "hầm tối" đều hay! Rất nhiều tên tuổi lục cục lòn hòn, chẳng đâu vào đâu chứ?! Nghề văn mà! Bạc như vôi! Vậy nhưng mình cũng gặp nhiều tay văn nghệ viết lách chẳng ra gì nhưng cứ ngỡ tên tuổi mình ghê gớm lắm! Đi đâu, khi giới thiệu với thiên hạ, y cũng trưng ra cái “căn cước” rách toe: -“Tôi, nhà văn Sài Gòn cũ! Trong giới văn nghệ một thời không ai là không biết tôi!...”

***

3. Văn nghệ Sài Gòn cũ - tạm gọi vậy còn hai toa Cung đầu và Cung cuối. Cung đầu là Cung Tích Biền. Cung cuối là Trịnh Cung. Hai ông hoạt động trên hai lĩnh vực là văn học và mỹ thuật. Trịnh Cung viết ít mà nói nhiều. Cung Tích Biền thì viết nhiều nói ít. Suy ra cả hai đều hợp lẽ cả! Làm cái này thì quên cái khác, thế thôi! Thật ra kéo một toa không, toa rỗng, lại chở cái “tánh không” vi vu, vần vèo như “văn nghệ Sài Gòn cũ” nghe oải chè đậu lắm! Hư hư thực thực. Khổ kinh! Không khéo vẹo cả xương sống, vẹt đường ray.

***

4. Như mình nói ở trên, mình đọc văn Cung Tích Biền từ năm học cuối cấp hai, 1988. Chính xác là lớp Chín. Ngày đó mình có chơi với một ông anh rất giỏi võ thuật tên là Chiến, Trương Bách Chiến. Cái tên đọc lên đã thấy muốn đánh nhau. Mình bắt đầu biết và vỏ vẽ học võ từ đó. Chiến cũng là người viết thư gửi Liên đoàn Võ thuật Hồ Chí Minh nhờ chuyển cho diễn viên Lý Hùng, con trai võ sư Lý Huỳnh đề nghị "thách đấu" tay đôi. Ở Đà Nẵng hay Sài Gòn đều được! Sẵn sàng thượng đài xem kẻ thắng, bại. Lý do là vào lúc đó, Lý Hùng có đóng phim "Lửa Cháy Thành Đại La" và "nổ" trên báo chí Sài Gòn quá mạng! Hình như còn dám kiêu ngạo, so sánh võ công của mình với Lý Tiểu Long (!). Chiến không chịu điều đó. Cho là phách láo và vô lối. Vụ này những người yêu thể thao và võ thuật đều có thể biết. Mình ghi lại cốt nói Chiến cũng võ thuật thượng thừa, công phu có đỉnh chứ không phài dạng "văng miểng", tơ lơ mơ. Sau đó mọi chuyện chìm xuồng vì chẳng thấy Liên đoàn hay Lý Hùng trả lời. Ngày bé, đối với mình những chuyện này là hấp dẫn, khoái trá vô cùng. Chờ một cuộc tỷ thí sống mái! Bây giờ nghĩ lại thấy tào lao hết sức nhưng cũng vui vui! Mình tháp tùng Chiến mấy năm được anh dạy cho một số chiêu cơ bản. Nay nói sang chuyện khác.

Chiến là con của nhà nghiên cứu Trương Duy Hy. Cuộc đời của ông Hy như lạc giữa trần đồ chữ nghĩa, tơi bời khói lửa, lên bờ xuống ruộng. Ông Hy là người nghe đâu từng được nhận giải thưởng văn chương của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho một cuốn sách viết về “Hạ Lào Máu Lửa”. Mình cũng đã đọc cuốn này. Nói văn chương cũng chả đúng mà chỉ là những ghi chép chiến trường. Cũng vì văn chương mà ông mang họa. Đâu khoảng năm 1983, ông Hy dính vào một "Thi xã Tao Đàn", bị gán cho là phản động, chống chế độ. Hình như có bị bắt đi tù hay cải tạo. Thực ra chắc cũng là mấy ông thất nghiệp, tụ bạ, chờ làm giấy tờ mong đi H.O, thăng hoa thơ thẩn qua ngày mà thôi! Hình ảnh của ông Hy bị cắt dán, bêu riếu khắp nơi từ nhà ga, bến tàu nhếch nhác trông đến tội nghiệp! Thì cũng chỉ mấy câu lục bát, thất ngôn vần vèo mà ngậm quả đắng. Ô hô! A ha! Vậy mà vẫn không bỏ đoạn tuyệt được với văn chương! Hình như cả đời ông Hy không viết được một trang nào ra văn. Mà chính ông cũng tự nhận như vậy! Nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân (Hà Nội) trong một bài viết đã kể về ông Hy như sau: “...Tôi chưa biết ông Hy. Và cho đến hiện giờ, tôi cũng biết ông như một nhà sưu tầm nghiệp dư, tự nguyện đi tìm lại thơ văn bậc hiền nhân có lẽ chỉ vì yêu mến và kính trọng, có lẽ chỉ vì thương cho một di sản có thể bị mất đi mãi mãi…”. Nghiệp dư! Từ đó hơi buồn nhưng chính xác. Sau này ông Hy có nghiên cứu về Tú Quỳ, danh sĩ Quảng Nam. Và cũng như nhiều người nhận định, ông đã mượn nhân vật này để thổ lộ chính lòng mình. “Kiến chẳng kiến voi chẳng voi / Trời sinh dế chũi cũng choi choi / Ngắn cánh lên trời e ít sức / Co tay vạch đất cũng khoe tài / Mưa to nước lớn lên cao ở / Lửa đỏ dầu sôi nhảy tới chơi / Quân tử có thương xin chớ phụ / Lăng xăng bay nhảy để mà coi” (Vịnh Dế Dũi - thơ Tú Quỳ). Một công trình nghiên cứu khác của ông là khảo luận về nữ văn sĩ viết tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam là bà Huỳnh Thị Bảo Hòa được giới học thuật đánh giá cao. Bây giờ thỉnh thoảng ông vẫn gọi điện thoại cho mình báo tin vừa viết xong cái này cái nọ, đăng tải báo này tạp chí kia! "Đón xem Minh nhé!". Giọng cười vẫn sang sảng ha hả! Vui lắm! Cứ như mọi chuyện dâu bể trần ai chẳng thấm tháp, dính dó gì đối với ông! 

Nhà nghiên cứu Trương Duy Hy rất thân với anh Biền mà có lần còn kể, là thầy dạy Cung Tích Biền. Mình hơi ngạc nhiên vì thấy giữa hai người quãng cách tuổi tác cũng không xa. Mà đúng như vậy thật! Sau này anh Biền kể ông Hy là thầy dạy anh một thời gian ngắn ở vùng xôi đậu, "chiến thuật" Quảng Nam. "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư"! Một chữ cũng thầy mà nửa chữ cũng là thầy mà! Khổng Tử dạy như vậy! Có lẽ vì mối thân tình đó nên sách của anh Biền in ra đều trân trọng ký tặng và gửi về cho thầy mình đọc. Hai tiểu thuyết “Chim Cánh Cụt” và “Một Thời Lưu Lạc” mình được đọc qua anh Chiến. Từ đó cho đến khi đậu đại học mình luôn có ý muốn đi tìm người viết! Nhưng cũng đâu dễ gì! Tùy duyên và cơ duyên đến cũng phải mất bao năm...

***

5. Những lần đối ẩm, mình thích nhất được nghe anh Biền nói. Và lần nào cũng ghi chép được những điều sâu xa về nghề. “Cứ tưởng chỉ có ma quỷ mới hành hạ con người nhưng văn chương chữ nghĩa còn hành hạ gấp trăm gấp ngàn lần…”. Một lần mình ngồi với anh Cung Tích Biền nghe anh nói cảm thấy có lý quá! Có những đam mê ăn quá sâu vào tâm hồn thực sự nó trở thành những bóng ma ám ảnh. Làm cái gì cũng bị nó quyến, lôi kéo trở lại với những ô hục chữ nghĩa đầy máu. Máu đó là cách nói hình tượng về những ám ảnh. Văn chương là cái thứ quái gì nhỉ? Thiên hạ man man. Ba nghìn thế giới. Vậy mả vẫn có nhiều kẻ đả đắm lạc vào cái thế giới quái quỷ như văn chương. Tu Hòa Lưu Hiệp trong "Văn Tâm Điêu Long" đã viết “Tầm quan trọng của văn thực là to lớn vậy! Văn cùng ra đời một lần với trời đất…”. So sánh văn chương ra đời một lần với trời đất thì thật không còn cách nào biểu đạt hay hơn, hoành tráng hơn. Đó dường như cũng là suy nghĩ chung của bậc túc nho, kẻ sĩ yêu văn chương phương Đông từ thời 465 - 520. Nhưng cũng có suy nghĩ ngược lại. Đó là bọn hành xác. Kẻ điên loạn. Mà lạ lùng thay đó lại là tuyên ngôn xuất phát từ Phương Tây, từ những nghệ sĩ đã vinh quang nhờ chữ nghĩa, ngôn từ. Lấy ví dụ của một nữ sĩ danh tiếng Simone de Beauvoir, vợ của nhà văn - triết gia Jean Paul Satre. Trong tác phẩm "Người Đàn Bà Bị Hủy Diệt", bà cho rằng đó là bọn viết văn là đám điên rồ. “Khám phá viết lách là một sự điên cuồng, một niềm say mê, thậm chí một thứ bệnh thần kinh, nếu không có chút phán xét về đạo đức… Tôi không bao giờ cho rằng những người khác nên sống như vậy…”. Nhưng cũng xuất phát từ Trung Quốc, có nhiều quan niệm khác hẳn Lưu Hiệp. Như vẫn truyền khẩu câu “Lập thân tối hạ thị văn chương…” (Viên Mai?) Ôi, cãi nhau về việc này thì còn dài dài...

Rồi cũng có một lần lai rai, anh thủ thỉ: -“Minh này, viết lách cũng vừa vừa thôi! Nghĩ cho củng đâu có gì bắt buộc bọn ta? Vì sinh ra đời có ký một khế ước nào là phải làm văn chương chữ nghĩa, công việc trời hành, đất đọa này đâu? Tự mình hảnh xác mình đấy chứ!...”.  Anh mệt mỏi "có đôi khi" rồi ư? 

***

6. Nhà văn lớn thường không chăm chăm vào những điều quá to tát, vĩ mô. Mà ở đời sống bình thường, thậm chí vô cùng vụn vặt. Những chi tiết làm nên truyện. Và khi đọc xong một truyện ngắn điều ám ảnh đọc giả chính là chi tiết đắt giá. Cung Tích Biền luôn luôn gây bất ngờ vì ông thực hiện được “chức năng vĩ đại ” đó trong văn của mình. Hãy đọc một phát hiện trở lại từ hình ảnh con cặt, một biểu tượng dục tính thường xuất hiện cuối cbiều, gần đây trong văn chương họ Cung.Thâm thúy, độc sáng. Tiếng nổ nhỏ đồng vọng tâm hồn. Một nỗi nhớ về quá khứ oanh liệt tàn phai. Hoài ức tuổi trẻ. Một cuộc chiến tàn bạo và âm thầm giữa sự trơ lỳ và sức sáng tạo. Một bản năng gốc của một ngòi bút. Mình tạm gọi những "phát hiện độc sáng toi-let". Truyện “Mùi Của Gió Mùa”.

“Một hôm ở quán nhậu, tình cờ đứng trong toilet, cụ thấy y như rằng một chục thằng trai trẻ chẳng đứa nào vạch cu ra đái xong mà chịu rửa tay, khi la-va-bô và nước sẵn một bên. Ấy thế, bàn tay bẩn, chúng cứ xé một miếng khô mực, nồng nàn cùng mình, dí vào mồm con bồ cao cẳng… Ngứa cái não, cụ nhẹ nhàng bảo một thằng trai trẻ: -“Này, xin lỗi, tiểu xong thì nên rửa tay đi cháu!...”. Cụ bị phản đòn ngay: “Con cặt là chỗ ngon cơm nhất sao lại phải rửa? Đáng lẽ phải rửa tay sạch sẽ rồi mới kính cẩn cầm thằng nhỏ mà tè chớ!...”

Phát hiện từ toilet này của Cung Tích Biền cũng độc đáo như Nguyễn Huy Thiệp. Của những nhà văn có kỹ năng và bản năng quan sát. Văn chương có "rởn hồn", có "khí lạnh" không chính nhờ khả năng "cú vọ" này! Trong buổi nói chuyện với mình, anh Thiệp kể, một lần vào toilet, khi đái bỗng thấy nước tiểu văng tóe lên tới tận mặt. Thì ra là cái bồn tiểu này dành cho tên chủ nhân vốn cỡ to cao chứ không phải bọn tiểu đồng thấp bé. Bồn tiểu mà còn phân chia “giai cấp” như thế huống hồ cuộc đời!...  

***

7. Nhà văn Phan Huy Đường, ký bút danh Trần Đạo (Paris) đã nhận định về truyện ngắn Cung Tích Biền: “Điều nổi bật trong văn Cung Tích Biền là tiết kiệm ngôn ngữ. Ít có nhà văn Việt Nam nào bần tiện như ông. Đọc cả một cuốn sách, không thấy có mấy câu thừa chữ. Cung Tích Biền biết giá trị của ngôn ngữ. Vì ông có điều đáng nói với đời, ít nhất đời người Việt. Điều đáng nói ấy là ngọn lửa soi sáng, nung đúc văn ông trong suốt ba mươi năm. Chính vì nó đáng nói, chính vì ông lấy đời mình nung đúc nó suốt ba mươi năm qua mà lời nói ấy biến thành văn, mà tình cảm đó biến thành nghệ thuật…”.

Khi nhà phê bình nói về sự tiết kiệm ngôn ngữ của một nhà văn đã là chuyện lạ! Bởi bản thể của văn chương vốn bay bổng chín tầng trời. Lưu Hiệp đã chẳng bàn văn chương sinh hạ cùng một lần với trời đất đó ư? "Tiết kiệm" phải chăng vô hình trở thành một ngáng lực, một đối kháng phản lo-gic? Phan Huy Đường đã từng viết "Tư Duy Tự Do" bàn về khả tính của người trí thức, người sáng tạo chẳng lẽ nay ông phản chính ông?  Nhưng không! Bằng hình ảnh "bần tiện" nhà phê bình nói về ý thức làm nghề của một nhà văn. Nâng cái vị trí "rỗng rảng" mơ hồ, ít giá trị của chữ nghĩa lên thành "khối đặc", thành tiền bạc, khẳng định đẳng cấp, thế giá của các thang bậc giá trị. Biến hiện thực thành hiện kim. Làm mình nhớ đến tác phẩm "Bọn Làm Bạc Giả" (Les faux-monnayeurs) của André Gide. Nhà văn không thể xài bạc giả. Việc tiết chế đến cùng tận, đến "bần tiện" cho thấy phẩm chất sống chết cùng danh dự với nghề của bọn nhà văn. Đó là bậc đề vương và kẻ ăn mày. Vinh quang, kiêu hãnh tột cùng mà cũng chó má, khốn nạn tận đáy!...

(Hết phần 1)

An Bình, 19.8.2012
Nguyễn Hữu Hồng Minh

 

©nguyenhuuhongminh.com