Tác phẩm

CHÂU THỔ, DẤU CHÂN GIAO CHỈ (II) - CHÂN DUNG VĂN NGHỆ - NGUYỄN HỮU HỒNG MINH

“Châu thổ” - Nxb. Hội Nhà Văn 2011
Tuyển thơ quan trọng của thi sĩ Nguyễn Quang Thiều
 

 

PHẦN 2


Đám văn nghệ sĩ hay tụ bạ mà chủ quán lại là dân viết lách thì còn gì bằng! Ít ra trà nước, chỗ ngồi thoải mái. Bởi thế quán Vũ Trọng Quang mặc dù nằm khu phố trung tâm “mỗi mét mỗi tiền” nhưng vẫn hào sảng là chỗ cập bến của dân văn nghệ. Rất nhiều nhân vật nhưng mình vẫn nhớ nhất là nhà thơ, dịch giả Cù An Hưng. Ông là một giáo sư toán nổi tiếng nhưng mê thơ lạ lùng. Ông có thể nói chuyện về thi pháp và đọc thơ hàng giờ. Bao giờ ông cũng sẵn lòng và quý các thi sĩ trẻ. Vì đọc được tiếng Pháp nên ông thường xuyên cập nhật các thông tin về chuyển động thơ. Cái quán Cao Thắng đó không còn, Cù An Hưng là người mình nhớ nhất. Mình hay đến chỗ này để gặp anh Chánh. Sâu vào bên cuối hẻm là một căn hộ nhỏ anh Quang cho Chánh thuê ở. Mình in tập thơ đầu tay “Giọng Nói Mơ Hồ” anh Chánh trình bày và làm bìa tại đây.

Dạo đó trình bày desigh trên vi tính là nghề đang thịnh hành. Nguyễn Quốc Chánh mon men thử nghiệm. Tuy nhiên, phải thấy các ấn phẩm do Chánh thực hiện rất ấn tượng. Đó là bìa và bố cục các tập “Thơ Tự Do”, “Khí Hậu Đồ Vật”, “Vật Lạ Trên Đầu”, “Giọng Nói Mơ Hồ”… có style riêng. Đặc biệt với tập “Thơ Tự Do” - tuyển chọn một số giọng thơ tiêu biểu ở Sài Gòn và cả nước như Nguyễn Thị Minh Thái, Phan Huyền Thư, Nguyễn Quang Thiều… Mình đã viết một bài giới thiệu tập thơ trên báo Tuổi Trẻ. Có thể nói, thi phẩm đã được chú ý và gợi mở một không gian hòa hợp, hỗn dung mọi bút pháp sáng tạo như đặc tính của những thành phố lớn và tinh thần Sài Gòn.

Và một hôm Chánh đưa cho mình tập thơ “Bài Ca Những Con Chim Đêm” của Nguyễn Quang Thiều. Hỏi mình xem bạn bè có ai đánh máy vi tính được không? Mình cầm tập thơ thấy bị kích thích. Bởi lẽ khi đọc một bản thảo và một tập thơ in xong là hai tâm thế hoàn toàn khác nhau. Nó như người làm bếp và khách mời được đến tham dự buổi ăn cỗ. Cái tên Nguyễn Quang Thiều ngày đó đã là một dấu ấn từ giải thưởng thơ Hội Nhà Văn VN cho tập “Những Người Đàn Bà Gánh Nước Sông” của anh! Tuy nhiên, mình không hiểu cớ sự lao đao làm sao một tác phẩm của một thi sĩ Hà Nội chính hiệu phải dạt vào tận Sài Gòn để nằm trên bàn desigh của một thi sĩ Sài Gòn. Xem ra cả hai tên, bên “tám lạng kẻ nửa cân” hoàn toàn ngang ngửa. Lại chăm sóc tác phẩm cho nhau. Điều đó nó có gốc rễ sâu xa phát tích từ nguồn năng lượng Nghệ sĩ. Nó có một lực huyền bí nào đó gọi nhau qua những tầng số sóng. Cũng như vậy, khi mình đưa tập thơ cho Trần Nhã Thụy đánh máy. Nó cũng là một đứa rất yêu văn chương với khát vọng nghệ thuật lớn. Có một điều gì bay lên ngoài mớ hỗn độn chữ nghĩa. Một sứ mệnh thiêng chỉ biết lãnh nhiệm khó mà chối từ…

*

Bàn chân của những người đàn bà gánh nước sông “tõe ra như những ngón chân gà mái”. Hình tượng lạnh lẽo và hoang sơ này đã dựng lên bất cứ người đọc yêu thơ nào một tượng đài Giao Chỉ. Nó là một trực chỉ nguồn, một ám ảnh mặc cảm đầy thân phận. Ngày nay, chúng ta không còn nói nhiều đến dấu chân tổ tiên Giao Chỉ nữa. Từ hiện thực lịch sử đã chuyển sang những âm bản ký hiệu. Bởi không còn ai biết ưu việt của chân Giao Chỉ ra sao? Có thể mỗi người có một khái niệm riêng. Nhưng mình vẫn không quên cái ngón cái trên bàn chân đầy màu sắc và khổng lồ trong phòng triển lãm của họa sĩ Lê Bá Đảng ở Huế. Đó là buổi chiều muộn của chuyến thăm viếng tình cờ sau khi đi tìm những huyền thoại teo tóp cố đô. Trong cái phòng triển lãm vắng bặt không hề có một bóng người ấy ở tầng hai, ngón chân Giao Chỉ làm bằng một chất liệu tổng hợp của họa sĩ nhưng nhức cô đơn. Mình nghĩ Nguyễn Quang Thiều nên sử dụng bức tranh này của Lê Bá Đảng để làm bìa nếu tái bản tập thơ. Bởi hầu hết các bìa thơ của Nguyễn Quang Thiều đều xấu xí, thiếu hẳn một bàn tay chăm sóc. Ngoài cái bìa “Bài Ca Những Con Chim Đêm” những khung đen như viền những hơi thở buồn cắt xé thực tại tạo sức liên tưởng mạnh thì các bìa “Nhịp Điệu Châu Thổ Mới”, “Cây Ánh Sáng”, “Những Người Đàn Bà Gánh Nước Sông”… ở dưới tầm của thơ, dưới tầm tác giả. Nhưng mình cũng từng chú ý đến một diễn dịch khác của Thiều: ngoài thơ, chữ - văn bản; không muốn tạo thêm bất kỳ một ký hiệu ăn theo hay liên tưởng nào! Tập thơ chỉ mang một âm hưởng duy nhất từ sức đọc, trí tuệ bay lượn và những thu gặt từ những không gian mở đó! Có thể suy nghĩ của mình đúng hay không đúng! Nhưng mình vẫn thích những tập thơ có bìa đẹp, chăm chút kỹ lưỡng. Xem lại những thi phẩm của Thanh Tâm Tuyền nhóm Sáng Tạo, bìa các tập “Liên Đêm Mặt Trời Mọc” hay “Tôi Không Còn Cô Độc”… tài hoa của các họa sĩ Duy Thanh Ngọc Dũng…đã nâng vị thế, tầm vóc của thi sĩ lên rất nhiều. Mỗi người một công việc, một thế đứng. Không có ai ăn theo ai ở đó!

*

Trước Nguyễn Quang Thiều không ai gọi, ám chỉ đồng bằng Bắc Bộ là “châu thổ” cả. Mình nói thẳng đồng bằng trong thi ca của Thiều là Bắc Bộ chứ không Trung Bộ hay Nam Bộ. Quê hương thi sĩ lớn lên, khung cảnh trong thơ Nguyễn Quang Thiều không đại diện được cho nền lúa nước, kinh tế tiểu nông của người Việt. Vì thế ngay những người nông dân cắm mặt trên đồng ở đồng bằng sông Cửu Long hay sông Thu Bồn hết sức thản nhiên vì không tìm thấy mình trong thơ Nguyễn Quang Thiều. Cứ như viết về một miền vàng, mùa vàng ở một xứ sở cuồng nhiệt nào đó. Tứ thơ “Nhịp điệu châu thổ mới” nghe rổn rảng hình tượng lạ lẫm không đi đúng nhịp mùa và tâm thức Việt. Rồi “những dòng sông rúc mặt lần đi” hay những gã đàn ông với “giấc mơ hoang hoải”, con cá thiêng khóc dưới những “lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi”… Những thi ảnh của những miền Bô-hê-miên xa xôi… Của nhịp và phách gõ khác chứ không phải giọng khàn đều đều của mõ, tụng kinh. Thơ hiện đại Nguyễn Quang Thiều đọc rất thú vị nhưng không ai dám ngâm ngợi nó cả! Với hình thức phương phóng, thơ kết hợp hình ảnh, vần điệu hoang lộng những chuỗi câu rậm rượt, nối dài, đan cài nhịp thức hoan mê… hoàn toàn không nghi ngại “bờ dốc” của văn hóa tiếp nhận hay “sốc” cảm thụ; Nguyễn Quang Thiều đã chiếm dụng được “vật thể” trên bờ không gian khác của thi ca.  Một logic minh triết mà chính triết gia Đề-cát phản luận trong học thuyết ông “Tôi cho rằng vật thể là cái gì đó chiếm một khoảng không gian, và như vậy là bất kỳ một vật thể nào khác cũng không thể nằm trong khoảng không gian đó được nữa…”.

Theo cách lý giải đó, tất cả các "nhịp điệu" sôi trào vọng lên từ "tiết tấu" khởi xứng của Nguyễn Quang Thiều đều phải chấp nhận ở trong "vật thể", "không gian" của Thiều. Cả những "biến tấu", " biến cải" thơ từ Inrasara, Nguyễn Quyến, Mai Văn Phấn, Nguyễn Hoàng Đức, Ngân Hoa... và rất nhiều thi sĩ khác! Dù anh có ngụy tín thế nào đi nữa! 

Nếu như ngôn ngữ Trịnh Công Sơn ở cấp bậc cao độ tinh lọc rung cảm; kéo gần” lại mọi tâm hồn vì “tâm thức Việt” thì ngôn ngữ Nguyễn Quang Thiều có cơ ngược trở lại; chia cắt mỗi tâm hồn là một thế giới riêng lẻ bởi “tâm thế Việt”. Sự chia cắt có bóng dáng u mặc của lịch sử, mỗi miền mỗi vùng “cát cứ” riêng. Chưa bao giờ nhập hẳn vào nhau. Đó cũng là gốc của những mặc cảm cội rễ. Nó xuất hiện đây đó như những bóng ma trong thơ. Từ tiềm thức thơ Thiều “sủi tăm” những bong bóng đó!

Và đây cũng là điều mình đã suy nghĩ về thơ Nguyễn Quang Thiều khi được mời phát biểu trong buổi tọa đàm. Minh cho rằng thơ có những bí mật không thể giải thích được. Mà nếu mọi thứ đều kê “lên thớt” cắt nghĩa, giải nghĩa thì đã là nhiệm vụ của báo chí, củ văn xuôi đâu cần đến thơ. Nguyễn Quang Thiều là một “điện từ” bí ẩn. Một năng lượng mạnh. Nguồn sáng tạo dồi dào đó đã bục phát qua nhiều lĩnh vực ngoài thơ như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thiếu nhi, kịch bản, báo chí… Ở hội thảo “Thơ Việt Nam hiện đại và thơ Nguyễn Quang Thiều” nhiều người cho là lớn tiếng, là to tát quá cũng có phần đúng ở nghĩa quảng cáo truyền thông - điều mà ít ai nghĩa là chính Nguyễn Quang Thiều cũng cần đến đều đó, riêng tôi thì thấy hình như anh đã bước qua điều ấy từ rất lâu - nhưng hoàn toàn xứng đáng. Bởi rất khó phủ nhận làn sóng thơ đã gây nhiễu từ khi xuất hiện tập thơ “Những Người Đàn Bà Gánh Nước Sông” của anh. Sự hấp dẫn, mới lạ này gần như đột khởi trong những cây vút có thiên hướng và tham vọng tiền phong hay cách tân. Nó như hình bóng của lá cờ phía trước không ai cầm chắc, không ai lượng ước xa gần thế nào nhưng đã lấp ló tín hiệu, vẫy gọi mãi…

Trong buổi giao lưu, Nguyễn Quang Thiều rất xúc động khi kể về những kỷ niệm thi ca. Có một câu chuyện đã làm mình giật mình, bởi giống như “ập khuôn” chỉ khác nhau chút ít về nồng độ và màu sắc. Đó là Nguyễn Quang Thiều thổ lộ anh rất sợ, hay rất kính trọng cha mình và đến bây giờ anh vẫn chưa hiểu hết tại sao cha anh khởi đầu hoàn toàn không muốn cho anh làm thơ. -Tôi từng bị cha mình hạ nhục, đánh đập vì những bài thơ đầu tiên. – Nhà thơ thú nhận -Tôi không thể quên được ánh mặt giận dữ của ông khi biết tôi vẫn lén lút làm thơ… Ông đã hạ nhục con mình bằng mọi cách có thể lúc đó…”…

(Hết phần 2)

 

Điểm Mới, Phan Xích Long, 15.8.2012
Nguyễn Hữu Hồng Minh


©nguyenhuuhongminh.com